19 tỉnh, thành phố sẽ có đô thị ứng phó biến đổi khí hậu vào năm 2025

Đây là mục tiêu giai đoạn 1 của Đề án Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt …

Lũ lụt tại tỉnh Quảng Trị tháng 10/2020 – Ảnh: Reuters

Đề án Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 được thực thực hiện với hệ thống đô thị trên phạm vi toàn quốc (63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). 

Trong đó, tập trung vào hệ thống đô thị ven biển, đồng bằng có nguy cơ ngập lụt và hệ thống các đô thị có nguy cơ cao chịu tác động của lũ quét, sạt lở đất tại các vùng miền núi phía Bắc, duyên hải ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Đề án được lập cho giai đoạn từ nay đến 2030, tầm nhìn sau năm 2030. Cụ thể, giai đoạn 1 (từ 2021-2025) được thực hiện tại 5 đô thị (gồm Tp.HCM, Hà Nội, Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng), các đô thị thuộc 7 tỉnh vùng duyên hải Bắc bộ, duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long và 7 tỉnh vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Giai đoạn 2 (từ 2026-2030) được thực hiện tại các đô thị ven biển, đồng bằng có nguy cơ ngập lụt, có nguy cơ cao chịu tác động của lũ quét, sạt lở đất tại các tỉnh thuộc vùng miền núi phía Bắc, duyên hải ven biển miền Trung, Đông Nam bộ, Tây Nguyên và các tỉnh có đô thị xuất hiện các tác động mới của biến đổi khí hậu.

Giai đoạn sau năm 2030 mở rộng phạm vi áp dụng trên toàn quốc.

19 tỉnh, thành phố sẽ có đô thị ứng phó biến đổi khí hậu vào năm 2025 - Ảnh 1.

Du khách chèo thuyền đi giữa phố cổ Hội An. – Ảnh: Reuters

Mục tiêu của đề án là chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị, góp phần kiểm soát và giảm mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất.

Đề án đề xuất tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất là điều tra, đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển hệ thống đô thị hiện có và đô thị dự kiến hình thành mới trong giai đoạn 2021 – 2030. Đồng thời khoanh vùng khu vực có nguy cơ chịu tác động cao của biến đổi khí hậu và tính toán khả năng, mức độ tự thích nghi, đề xuất giải pháp ứng phó. Hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro biến đổi khí hậu tại đô thị (gọi tắt là Atlas Đô thị và Khí hậu).

Thứ hai là tích hợp nội dung ứng phó biến đổi khí hậu vào quy hoạch và chương trình, kế hoạch phát triển đô thị; vàcảnh báo các rủi ro tại các khu vực phát triển đô thị có khả năng chịu tác động từ biến đổi khí hậu.

Thứ ba là rà soát, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, các quy định liên quan đến phân loại đô thị, quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển đô thị, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật trong bối cảnh gia tăng nguy cơ rủi ro từ biến đổi khí hậu.

Thứ tư là Hình thành hệ thống kiểm soát, hạn chế lũ, lụt, ngập úng trong đô thị. Hình thành hồ chứa điều tiết ngập lụt, khai thông, nạo vét, cải tạo, gia cố, nắn dòng cho các đường thoát nước đô thị. Xây dựng đê, kè, tường chắn lũ, phân dòng lũ, công trình chứa nước ngầm hiện đại quy mô lớn. Khoanh vùng bảo vệ và có giải pháp tái định cư và di dời dân trong vùng cảnh báo rủi ro. Phát triển nhà ở vượt lũ, nhà ở có khả năng chống chịu cao với gió bão.

Thứ năm là nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn các cấp về quản lý, phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu. Thông tin truyền thông về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới người dân, tăng cường phối hợp cộng đồng và các bên liên quan trong triển khai thực hiện.

Thứ sáu là thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học – công nghệ, thực hiện các dự án thí điểm phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, kiến trúc xanh, sinh thái ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng công trình tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải; phát triển vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, tái sử dụng, tái chế.

Xoá “vết đen tín dụng” giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn ưu đãi

Đã “dính” nợ xấu, nợ quá hạn, kể cả khi doanh nghiệp đã hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, thì vẫn có “vết” trong hệ thống thông tin ngân hàng nên rất khó tiếp cận vốn…

Ngân hàng miễn giảm hạ lãi suất vay cho các doanh nghiệp trong đại dịch covid

Không có cánh tay nào được giơ lên sau câu hỏi của ông Phạm Xuân Hoè, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng tại buổi đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vượt qua Covid-19 mới đây: “Trong số các doanh nghiệp tại đây, có doanh nghiệp nào tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi có trần lãi suất 4,5%/năm với các lĩnh vực ưu tiên?”.

Một trong những nguyên nhân, theo vị chuyên gia, là do doanh nghiệp bị liệt vào “danh sách đen” do dính nợ xấu, nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc. “Vì thế, kể cả khi doanh nghiệp đã hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, thì vẫn có “vết” trong hệ thống thông tin ngân hàng nên rất khó tiếp cận vốn ở bất kỳ ngân hàng nào chứ đừng nói đến việc tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi”, ông Hoè nói.

QUY ĐỊNH QUÁ KHẮT KHE?

Cùng quan điểm với chuyên gia Phạm Xuân Hoè, ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cho biết: nếu loại trừ những trường hợp doanh nghiệp yếu kém cần cẩn trọng trong việc xem xét cho vay thì có những doanh nghiệp chỉ một lần gặp khó tạm thời mà không bao giờ tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng là quá khắt khe.

Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân duy nhất. Theo ông Thập, một vướng mắc nữa được doanh nghiệp nêu lên từ rất lâu nhưng đến giờ vẫn chưa có cách thức giải quyết hiệu quả. Đó chính là tài sản thế chấp.

“Không ít cán bộ ngân hàng do năng lực thẩm định dự án hạn chế, thường muốn làm theo cách thuận tiện, giữ an toàn cho mình nên không thật sự đồng hành cùng doanh nghiệp”, ông Thập cho hay.

Phía ngân hàng thường lựa chọn những doanh nghiệp có tài sản thế chấp có tính thanh khoản cao, dễ bán hơn khi có rủi ro tín dụng như nhà đất, ôtô… Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, sau khi tập trung 70-80% nguồn lực tài chính vào dây chuyền sản xuất, nhà xưởng… nguồn tài sản khác còn lại rất ít.

“Đáng tiếc, doanh nghiệp lại không thể không thể dùng nguồn tài sản này để thế chấp với ngân hàng vì ngân hàng không mặn mà và bị định giá rất thấp”, ông Thập cho biết.

Vì vậy, vị đại diện cho doanh nghiệp Tuyên Quang đề xuất, trong trường hợp không có sự thống nhất giữa doanh nghiệp và ngân hàng, cần có cơ quan thứ ba, độc lập tham gia định giá tài sản đảm bảo, tránh việc doanh nghiệp bị định giá thấp tài sản khi vay vốn.

Trong khi đó, ở góc độ nghiên cứu, ông Phạm Xuân Hoè cho biết nếu chính sách ưu đãi doanh nghiệp đã được ban hành nhưng lại có những điều kiện ràng buộc đi kèm quá chặt chẽ sẽ khiến người cần thụ hưởng khó tiếp cận.

“Ngân hàng Nhà nước có chủ trương hạ lãi suất với mục tiêu tạo điều kiện gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn do Covid-19. Nhưng khi triển khai thực tế, tại các ngân hàng, lãi suất tiền vay luôn hạ chậm và ít hơn so với lãi suất tiền gửi. Rất ít doanh nghiệp thật sự tiếp cận được nguồn vốn vay có trần lãi suất 4,5%/năm được áp dụng với các lĩnh vực ưu tiên do một số quy định quá chặt so với thực tế”, ông Hòe cho biết.

Vì vậy, vị chuyên gia cho rằng các chính sách hỗ trợ cần bám sát thực tiễn để chính sách có thể đi vào cuộc sống, đến đúng các đối tượng cần hỗ trợ. “Chính sách hỗ trợ sẽ giảm ý nghĩa nếu quá khó để tiếp cận”, vị chuyên gia nhận định.

THÁO GỠ NÚT THẮT TÍN DỤNG 

Để tháo gỡ nút thắt này, ông Phạm Xuân Hoè, phải tìm cách “xoá” vết đen của doanh nghiệp trên hệ thống thông tin của ngân hàng. 

Đối với những doanh nghiệp đã làm đủ nghĩa vụ với ngân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh sau khi đã để nợ quá hạn, nợ xấu tạm thời, có thể làm đơn đề nghị với ngân hàng trực tiếp quan hệ tín dụng. Cùng với đó, tình hình thực tế của doanh nghiệp sẽ được cập nhật, tổng hợp trên Trung tâm Thông tin tín dụng quốc giá (CIC) để ngân hàng có thể xem xét xóa toàn bộ thông tin về nợ xấu để có điều kiện tiếp cận vốn hơn về sau.
Chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hoè

Trong khi đó, khi bàn về khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp mới đây, chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp ở lĩnh vực du lịch, khách sạn… rất cần vốn ưu đãi để duy trì, ổn định sản xuất, kinh doanh. Theo đó, để kéo giảm lãi vay, cần có một tổ hợp tín dụng đi kèm với bảo lãnh tín dụng. Các ngân hàng sẽ cùng tham gia vào tổ hợp này tùy vào khả năng từng ngân hàng mà đóng góp vốn. Gói vốn cho tổ hợp tín dụng nên ở mức 300.000 tỷ đồng và cho vay tín chấp với lãi suất 3 đến 5%. Tuy nhiên, cho vay tín chấp sẽ có rủi ro nên phải có thêm cơ chế quỹ bảo lãnh tín dụng.

“Đơn vị nhận gói vay này nên để kỳ hạn vay 5 năm nhằm giúp hồi phục và tăng trưởng sau thời gian dịch bệnh. Bằng cách này, lãi vay thấp sẽ lan tỏa đến cả các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, những thực thể bị ảnh hưởng mạnh bởi dịch bệnh trong khi khó có đủ tài sản có giá trị để thế chấp vay tín dụng”, ông Hiếu đề xuất.

Chia sẻ với những khó khăn mà khu vực doanh nghiệp đang gặp phải, bà Hà Thu Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết các ngân hàng xác định, doanh nghiệp có tồn tại, sống khỏe thì ngân hàng mới phát triển và ngược lại. Dù vậy, trong quá trình triển khai các ngân hàng cũng đối mặt với nhiều thách thức vì sự sụt giảm “sức khoẻ” của nhiều doanh nghiệp.

Cụ thể, theo ông Hà Thanh Hải, Giám đốc Vietcombank Tuyên Quang, trong quá trình xem xét, đánh giá cấp tín dụng cho doanh nghiệp, ngân hàng luôn đánh giá hiệu quả dự án, tài sản đảm bảo chỉ là biện pháp cuối cùng, vì thực tế, mục đích của ngân hàng kinh doanh là tiền tệ, không bao giờ muốn để đến mức phải xử lý hay bán tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, ý kiến của ông Hải là cần sớm sửa đổi một số cơ chế liên quan để hỗ trợ tốt hơn nữa các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Bà Hà Thu Giang cũng thông tin thêm: hiện Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương sửa đổi chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ tại Thông tư 01/2020/TT-NHNN theo hướng điều chỉnh một số mốc thời gian để tổ chức tín dụng được cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng, đảm bảo phù hợp với tình hình diễn biến dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua và sửa đổi, bổ sung một số quy định để phù hợp với thực tế triển khai của tổ chức tín dụng.

Từ đầu năm 2020, ngay sau khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp điều chỉnh giảm 3 lần các mức lãi suất, tổng mức giảm 1,5-2,%/năm đối với lãi suất điều hành. Các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 265 nghìn khách hàng với dư nợ 366 nghìn tỷ đồng.

Ngân hàng cũng thực hiện miễn, giảm, hạ lãi suất vay vốn cho 625 nghìn khách hàng với dư nợ hơn 1,06 triệu tỷ đồng. Cho vay mới với lãi suất thấp hơn so với trước dịch đối với 426 nghìn khách hàng, doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đến nay đạt hơn 2,65 triệu tỷ đồng.

Trong lĩnh vực thanh toán, ngân hàng đã thực hiện chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán như: ban hành Thông tư điều chỉnh giảm 50% mức phí giao dịch thanh toán qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS) và các Tổ chức tín dụng thực hiện giảm, miễn phí giao dịch thanh toán cho khách hàng…

“Đầu tư chứng khoán, cần bớt để ý đến Vn-Index”

Nhiều nhà đầu tư tỏ ra do dự khi VN-Index mãi vẫn chưa thể chinh phục được mốc 1.200 và chỉ số chứng khoán này không bứt phá được nhiều sau 14 năm…

Ông Lê Chí Phúc (trái) và ông Nguyễn Quang Thuân (phải) phát biểu tại hội thảo.

Chứng khoán trong giai đoạn hiện nay có còn là kênh đầu tư hấp dẫn? Câu trả lời cho vấn đề này được nhiều chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo “Chiến lược đầu tư khi kinh tế phục hồi” diễn ra ngày 27/3 do Cộng đồng Cố vấn Tài chính Việt Nam (Vietnam Wealth Advisors – VWA) tổ chức. Đây là sự kiện đồng hành cùng Lễ ra mắt chính thức Cộng đồng Cố vấn Tài chính Việt Nam. 

KINH TẾ PHỤC HỒI NÊN ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU HAY TRÁI PHIẾU? 

Chia sẻ quan điểm tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch Hội đồng quản trị FiinGroup cho rằng: “Thị trường cổ phiếu hiện tại đang biến động lớn và trong giai đoạn nhạy cảm. Dù vậy kênh đầu tư này vẫn phù hợp với “investing” thay vì “day-traders” và lại có vị thế vay margin”. 

Chủ tịch FiinGroup khẳng định, kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp đại chúng đều đã phục hồi theo hình chữ V, ngân hàng vẫn duy trì tăng trưởng cao. Với triển vọng rất sáng của doanh nghiệp niêm yết đặc biệt là doanh nghiệp VN30 thì tỷ suất sinh lời vẫn sẽ còn gia tăng. Trong bối cảnh bị khối ngoại bán mạnh thì cổ phiếu vẫn có thể là kênh đầu tư hấp dẫn nếu theo trường phái đầu tư giá trị/dài hạn.

“Đầu tư chứng khoán, cần bớt để ý đến Vn-Index” - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch Hội đồng quản trị FiinGroup

Trong khi đó ở kênh đầu tư trái phiếu, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp năm 2020 đã đạt quy mô 950,3 nghìn tỷ (trong tổng số hơn 1,2 triệu tỷ đồng đã phát hành 5 năm qua), tương đương 15,1% GDP và 10,3% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, có đến 75% danh mục là do ngân hàng nắm giữ trong khi phát hành đại chúng còn rất nhỏ, vậy nên quy mô thị trường trái phiếu có vẻ lớn nhưng lại chưa thực sự lớn. 

Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đang ở giai đoạn “vàng thau lẫn lộn”. Nhiều doanh nghiệp tốt nhưng chào lãi suất thấp ngang với những doanh nghiệp yếu kém hơn, trong khi thị trường lại đang chi tiền vào những doanh nghiệp có rủi ro cao.

“Trái phiếu có lợi tức cố định nhưng song song với đó cũng có khá nhiều yếu tố bất định, nhất là kỳ hạn trái phiếu với năng lực trả nợ của doanh nghiệp phát hành. Nhiều doanh nghiệp có kỳ hạn trái phiếu huy động với khả năng trả gốc và lãi “vênh” nhau rất lớn, rủi ro nằm ở việc doanh nghiệp có phát triển đủ để trả lãi cho nhà đầu tư hay không”, ông Thuân lưu ý.

Thực tế, nhà đầu tư cá nhân vẫn còn nhiều cơ hội với trái phiếu nhất là khi phải lựa chọn giữa bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu và kênh gửi tiết kiệm, nhất là với đội ngũ môi giới/tư vấn tài chính. Tuy nhiên, rủi ro là hiện hữu và cơ hội để tìm kiếm các trái phiếu có rủi ro vỡ nợ thấp với mức lãi suất cao hợp lý để phục vụ thị trường. 

KHÔNG NÊN DÀNH QUÁ NHIỀU THỜI GIAN DỰ ĐOÁN VN-INDEX

Ở kênh cổ phiếu, nhiều nhà đầu tư tỏ ra do dự khi VN-Index mãi vẫn chưa thể chinh phục được mốc 1.200 và chỉ số này không bứt phá được nhiều sau 14 năm. Ông Lê Chí Phúc – Tổng giám đốc SGI Capital cho rằng chỉ số Vn-Index trong 14 năm qua dù không thay đổi nhiều nhưng P/E đã thay đổi rất lớn, từ 40 lần năm 2007 đã xuống còn 17-18 lần hiện tại. Điều này cho thấy lợi nhuận doanh nghiệp đã tăng trưởng khoảng 2,5 lần so với 14 năm trước, năm nay cũng là năm lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng trưởng mạnh.  

Theo thống kê của quỹ SGI, Việt Nam đang ở giai đoạn cuối của nước đang phát triển, theo đà phát triển này, lãi suất sẽ tiếp tục đi xuống theo đường dài, và có khi xuống chỉ còn 1-2%, lãi suất tiền gửi của một số nước Bắc Âu thậm chí còn bằng 0. Việt Nam những năm tới sẽ vẫn tiếp tục có đầy đủ các yếu tố hỗ trợ tăng trưởng, nhờ đó mức lợi nhuận của các doanh nghiệp sẽ còn tiếp tục giữ được đà tăng như 14-15 năm qua. 

“Đầu tư chứng khoán, cần bớt để ý đến Vn-Index” - Ảnh 2.

Ông Lê Chí Phúc – Tổng giám đốc SGI Capital

Index nói chung và thị trường nói chung sẽ lên mức cực kỳ đắt khi nền kinh tế tăng trưởng cực kỳ nhanh và dòng tiền ngoại đổ vào chứng khoán ồ ạt. Bây giờ kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng đều đều, chưa có thông tin gì quá đột biến để thu hút lượng tiền lớn từ nước ngoài vào, nhưng trong tương lai khoảng 3-5 năm nữa Việt Nam sẽ gia nhập các thị trường EM, lớn hơn rất nhiều hiện tại, mở rộng cơ hội thu hút các quỹ rất lớn vào đầu tư. 

Cũng nói về chỉ số Vn-Ịndex, ông Phúc cho rằng Index được mọi người nói đến quá nhiều và dành quá nhiều tâm sức để dự báo diễn biến tăng giảm trong thời gian tới. Tuy nhiên điều này là không hiệu quả. Trung bình 10 năm qua Index tăng 9%/năm, cộng thêm 2% cổ tức tiền mặt thì có thể đạt 11%/năm. Một thống kê cho thấy 80% nhà đầu tư kể cả quỹ/tổ chức không thắng được Index, nếu đi theo con đường này, lợi suất cùng lắm chỉ là 10%/năm. 

“Một thống kê của chúng tôi ở các công ty chứng khoán có nhiều nhà đầu tư cá nhân trong 3 năm Vn-Index đều tăng (2014-2016), gần 1 nửa nhà đầu tư cá nhân ở các công ty chứng khoán đấy có NAV cuối năm thấp hơn đầu năm cho thấy nhà đầu tư vẫn lỗ trong năm chỉ số chứng khoán đi lên. Đi vào cụ thể thì vòng quay mua bán của các nhà đầu tư rất nhiều. Chi phí giao dịch, phí margin, trung bình phí ở những tài khoản giao dịch nhiều lên đến trên 20%/năm, một số tài khoản có thể lên tới 40%/năm, còn đại đa số các nhà đầu tư cá nhân trade ít cũng không dưới 10%/năm, đây là lý do mà tài khoản âm. Do vậy, để có được mức lợi nhuận tốt trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư cần lựa chọn những cổ phiếu tốt để đi cùng doanh nghiệp và bớt để ý đến Index hơn”. 

Cộng đồng Cố vấn Tài chính Việt Nam (Vietnam Wealth Advisors – VWA) là tổ chức nghề nghiệp phi lợi nhuận được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp xã hội. VWA ra đời với vai trò phát triển và thúc đẩy cộng đồng có thể đem lại những cố vấn tài chính độc lập cho công chúng Việt Nam. VWA hướng tới thúc đẩy sự phát triển của dân trí tài chính cho công chúng.

Ban đầu, VWA hoạt động dưới hình thức một nhóm trên mạng xã hội bao gồm khoảng 50.000 thành viên cho đến thời điểm thành lập khi một nhóm các cố vấn tài chính có uy tín, các giám đốc quản lý quỹ, giám đốc công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm quyết định thiết lập một tổ chức chính thức hoạt động phi lợi nhuận được pháp luật cho phép.

Năm 2020 lợi nhuận Kosy tăng và những áp lực lớn năm 2021

Báo cáo tài chính vừa được kiểm toán của Công ty Cổ phần Kosy cho thấy tình hình kinh doanh khởi sắc của doanh nghiệp bất chấp tác động của Covid 19 lên nền kinh tế…

Dự án Kosy City Beat Thai Nguyen do Công ty Cổ phần Kosy làm chủ đầu tư nhận được sự quan tâm của giới đầu tư địa ốc đầu năm 2021.

Báo cáo tài chính vừa được kiểm toán của Công ty Cổ phần Kosy cho thấy tình hình kinh doanh khởi sắc của doanh nghiệp bất chấp tác động của Covid 19 lên nền kinh tế.

Cụ thể, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2020 của Kosy đạt 1.308,6 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2019 (1.062 tỷ đồng). Trong cơ cấu doanh thu, doanh thu bán hàng hoá và doanh thu kinh doanh bất động sản đều tăng mạnh, lần lượt tăng 26,5% và 11,4% so với năm 2019. Năm 2020, Kosy ghi nhận khoản doanh thu cho thuê 300 triệu đồng trong khi năm ngoái khoản này không có. Lợi nhuận gộp bán hàng cung cấp dịch vụ đạt 78,3 tỷ đồng.

Trong năm 2020, Kosy đã đầu tư và thực hiện chuyển nhượng thành công đối với các khoản đầu tư tài chính đạt 40 tỷ đồng, tăng 112 lần so với năm 2019, lãi tiền gửi tiền cho vay cũng tăng gấp đôi, nhờ đó doanh thu hoạt động tài chính đạt 43,4 tỷ đồng, tăng mạnh so với con số của năm 2019. Sau khi trừ đi các khoản chi phí phát sinh, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 22 tỷ đồng, tăng gần 10% so với năm 2019.

Tổng tài sản của Kosy tính đến cuối năm 2020 là 2.198 tỷ đồng, tăng 15%, vốn chủ sở hữu 1.158 tỷ đồng. Tiền và các khoản tương đương tiền 19,8 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là tiền gửi tại các ngân hàng không kỳ hạn. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ 14 tỷ đồng.

Dự án Kosy City Beat Thai Nguyen do Công ty Cổ phần Kosy làm chủ đầu tư nhận được sự quan tâm của giới đầu tư địa ốc đầu năm 2021.

Tháng 12/2020, Kosy Group quyết định tăng vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Kosy – một thành viên của Tập đoàn Kosy, đã niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE (mã KOS) lên hơn 1.600 tỷ đồng và có giá trị vốn hóa thị trường hơn 4.000 tỷ đồng. Đây là một bước đi đánh dấu sự tăng trưởng của Kosy Group, gia tăng tín nhiệm với các đối tác tài chính ngân hàng, khách hàng và nhà đầu tư.

Công ty Cổ phần Kosy – một thành viên của Tập đoàn Kosy, hoạt động chính trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản với nhiều dự án trải dài khắp miền Bắc như Khu đô thị Kosy Sông Công, Khu đô thị Kosy Bắc Giang, Khu đô thị Kosy Gia Sàng, Khu đô thị Kosy Cầu Gồ, Khu đô thị Kosy City Beat Thai Nguyen…

Các dự án bất động sản của công ty Kosy đang triển khai ngày càng quy mô hơn, tiến độ thi công nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Hiện nay, Kosy có quỹ dự án tiềm năng, nhiều dự án đã hoàn thiện pháp lý và hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, sẽ triển khai trong thời gian tới. Trong năm 2021, Công ty Cổ phần Kosy sẽ triển khai 4 dự án bất động sản tại các tỉnh thành. Điều này cũng là áp lực lớn với doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế trầm lắng và thu xếp tài chính để triển khai thành công các dự án.

Tập đoàn Kosy được thành lập năm 2008, hoạt động trong lĩnh vực bất động sản và năng lượng tái tạo với hơn 20 đơn vị thành viên. Bên cạnh các dự án bất động sản do Công ty Cổ phần Kosy làm chủ đầu tư thì các công ty khác của Kosy Group cũng đang triển khai nhiều dự án năng lượng tái tạo như: Dự án Thủy điện Nậm Pạc – 34 MW, dự án Điện gió Kosy Bạc Liêu – giai đoạn 1 – 40 MW và nhiều dự án điện gió, điện mặt trời, thủy điện khác…

Vì sao Ngân hàng Nhà nước thận trọng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng?

Nhìn chung, mặt bằng “room” tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp cho các tổ chức tín dụng thấp hơn so với năm trước…

Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô vẫn đang trên đà phục hồi và những tín hiệu khởi sắc đã xuất hiện nhiều hơn nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn tỏ ra rất thận trọng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra ba kịch bản cho tăng trưởng tín dụng năm 2021 ứng với tình hình diễn biến Covid-19. Kịch bản 1, tăng trưởng tín dụng 12-13%, tối đa có thể lên 14% nếu dịch Covid-19 dừng trong quý 1 và tiêm chủng vacxin đại trà. Kịch bản 2, mức tăng trưởng tín dụng là 10-12% trong trường hợp Covid-19 kéo dài đến tháng 6/2021 và Việt Nam vẫn tiếp tục phải thực hiện giãn cách xã hội, phải chờ tiêm vaccine. Và kịch bản 3 là Covid-19 kéo dài đến hết năm, tín dụng tăng 7-8%.

Tại báo cáo nhận định về hạn mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, dựa trên bối cảnh vĩ mô hiện tại với tình hình dịch bệnh đang được kiểm soát và việc tiêm chủng đang được triển khai, triển vọng tăng trưởng tín dụng vẫn nghiêng về kịch bản tích cực nhất là tăng 12,0-14,0% vào năm 2021.

Tuy nhiên, hạn mức tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng đang thấp hơn nhiều so với năm ngoái. Như vậy, nhiều khả năng nhà điều hành định cân bằng giữa mong muốn đạt được tăng trưởng tín dụng cao và nguy cơ suy giảm chất lượng tài sản, đặc biệt khi những bất ổn kinh tế vẫn còn rõ rệt do rủi ro liên quan đến Covid-19 (tức là nợ xấu cao hơn và kỳ vọng lạm phát gia tăng).

Do Ngân hàng Nhà nước đưa ra hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm tùy thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu nên những năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước luôn đưa ra hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu ở mức thấp. Sau đó, sẽ mở rộng hạn mức tín dụng dựa trên tình trạng tài chính của ngân hàng và kết quả xử lý nợ xấu (thường là trong nửa cuối năm). 

Ngân hàng Nhà nước thận trọng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng - Ảnh 1.

Hạn mức tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng năm 2020 và năm 2021

“Theo cách hiểu của chúng tôi, Ngân hàng Nhà nước đang chọn phương pháp tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy” nhằm quản lý rủi ro tín dụng. Theo đó, các ngân hàng sẽ có động lực để cải thiện hoạt động và thận trọng hơn trong các hoạt động cho vay đầu cơ và rủi ro. Như vậy, các ngân hàng khỏe mạnh hơn sẽ có thể thêm hạn mức tín dụng cao hơn trong nửa cuối năm”, nhóm phân tích của VDSC nhận định. 

Do hạn mức tăng trưởng tín dụng không phải là thông lệ quốc tế trong điều hành chính sách tiền tệ, VDSC cho rằng nên thận trọng khi xem hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn là một dấu hiệu của việc thắt chặt chính sách tiền tệ. Với chính sách tiền tệ đa tiền tệ, những bất ổn liên quan đến đại dịch khiến Ngân hàng Nhà nước khó có được bức tranh rõ ràng về xu hướng sắp tới của hệ thống ngân hàng. 

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng cho rằng, việc phân bổ hạn mức tín dụng thấp ban đầu với khả năng điều chỉnh sau này có thể là một công cụ phù hợp trong nỗ lực duy trì ổn định vĩ mô.

Báo cáo của VDSC còn cung cấp thông tin về hạn mức tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng lớn. Trong đó, Techcombank và MB là 2 ngân hàng được giao hạn mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong năm 2020. 

Năm 2021, bên cạnh Techcombank và MB còn có Vietcombank là những ngân hàng được cấp hạn mức tín dụng cao nhất: TCB (12,5%0, MB và VCB (10,5%). Theo sau là ACB (9,5%) và VIB (8,5%), BIDV (7,5%), VietinBank (7,5%), Agribank (6,5%), Eximbank (6,5%),…

Nhìn chung, mặt bằng “room” tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp cho các tổ chức tín dụng thấp hơn so với năm trước.